Sinh viên thờ ơ với thư viện
Thư viện (TV) cũ kỹ, thiếu thốn tài liệu, sinh viên (SV) không lui tới còn có lý do. Tại các trường ĐH lớn, nơi có TV hiện đại, chất lượng tốt cũng không thu hút được SV.
Thạc sĩ Nguyễn Minh Hiệp - Giám đốc TV trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM) - cho biết: "Nhiều TV được Nhà nước và nước ngoài đầu tư rất lớn nhưng vẫn không sử dụng hiệu quả, mặc dù chất lượng dịch vụ và đầu sách vượt hơn yêu cầu của người sử dụng".
"Vào đây để xả stress..."
Theo ông Hiệp, hằng năm TV ĐH Quốc gia TP.HCM được Nhà nước đầu tư hơn 1 triệu USD, TV ĐH Cần Thơ, ĐH Luật TP.HCM và một số TV khác đều có nhiều nguồn tài trợ. Bên cạnh đó, nhiều dự án TV hiện đại sắp được thực hiện có trị giá hàng trăm triệu USD, cơ sở vật chất quy mô và hơn hàng trăm nghìn đầu sách. Nhưng thực tế hiện nay, tại TV trường ĐH Khoa học tự nhiên chỉ có SV cao học, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh đi học ở nước ngoài về làm việc tại VN sử dụng TV có hiệu quả. Lý giải điều này, ông Hiệp cho rằng SV thờ ơ với TV vì trình độ tiếng Anh (hoặc ngoại ngữ khác) quá kém nên không thể tham khảo được tài liệu. Bên cạnh đó, TV của trường chỉ là nơi học tập, nghiên cứu, trao đổi, tìm thông tin chứ không phục vụ cho mục đích giải trí khác nên chỉ phù hợp đối với những SV cần đến TV để học tập.
Trong khi đó, tại TV trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, phần đông SV vào chủ yếu để... giải trí. "Vào TV để lên mạng vì tòa nhà thư viện có wifi tốt", Nguyễn Thị Mai - SV ngành Quản trị kinh doanh thành thật. Còn Trần Văn Hoàng - SV ngành Công nghệ thông tin thì nói: "Do không có máy tính xách tay nên em vào TV lướt web, nếu không có máy thì chơi với các bạn, chờ có máy trống rồi vào". Khi hỏi đến việc xem sách, tìm tài liệu thì những SV này đều cho rằng vào đây để xả stress và thư giãn. Thậm chí, nhiều SV đến đây để hẹn hò, ngủ... Một thủ thư của trường cũng tiết lộ: mỗi ngày TV có hơn 3.000 lượt SV ra vào nhưng số lượng đến xem và mượn sách chưa đến 300 người.
Ngày thứ bảy chỉ có 3 SV đến TV
Trong khi đó, Been - một SV Hàn Quốc đang học ngành VN học tại trường ĐH Khoa học xã hội & nhân văn TP.HCM, chia sẻ: "Tại nước tôi, TV mở cửa 24/24 giờ suốt tuần". Been nhận xét: SV VN rất ít đọc sách và tham khảo tài liệu. Đến trường, SV VN chỉ cầm có vài cuốn tập. Trong khi đó, SV nước ngoài phải mang theo nhiều sách đi học, học xong là chạy ngay vào TV học tiếp để tìm hiểu sâu hơn và chuẩn bị bài học cho hôm sau.
TV trường ĐH ở các nước phần lớn đều phục vụ 24/24 vì nhu cầu học tập và nghiên cứu của SV rất lớn. Thế nhưng ở VN, khi đặt vấn đề này, khó khăn lại không chỉ từ ngân sách các trường mà còn từ phía SV.
Trước đây, Trung tâm Học liệu trường ĐH Sài Gòn mở cửa từ 7 giờ sáng đến 20 giờ, nhưng chưa đến 18 giờ, SV đã về hết. Thậm chí TV còn mở cả ngày chủ nhật, nhưng chỉ có lác đác vài SV đến ngồi học. Thạc sĩ Đặng Văn Thống - Phó giám đốc phụ trách Trung tâm Thông tin TV trường ĐH Luật TP.HCM, cũng cho biết trước đây TV mở cửa suốt tuần từ 8 giờ sáng đến 8 giờ tối nhưng rất ít SV đến học tập, nghiên cứu. Sau đó, TV chuyển sang mở cửa giờ hành chính thì lại nhận được phản ánh yêu cầu mở cửa lại ngoài giờ vì thời gian đó SV mới rảnh rỗi đến TV. "Năm học này, chúng tôi làm liều mở cửa thêm ngày thứ bảy để xem sao. Nhưng từ hồi mở cửa đến nay đã 3 tháng nhưng ngày thứ bảy chỉ có 3 SV đến TV!".
Viết bằng tiếng Anh để hội nhập
Viết sách bằng tiếng Anh dù đang sống ở Việt Nam, đó là việc mà nhà văn Vĩnh Quyền đã làm. Anh cũng sang Mỹ để giới thiệu tiểu thuyết Debris of Debris (Mảnh vỡ của mảnh vỡ) của mình tại ĐH Saint Benedict - bang Minnesota.
* Tại sao anh lại bắt tay vào một việc có vẻ “khác thường” như thế?
Chính từ tủ sách ngoại văn trong một vương phủ dột nát ở Huế và thói quen quấn chăn đọc sách trong mùa đông dài xứ Huế đã khởi dẫn ý tưởng viết tiểu thuyết bằng Anh ngữ cho tôi. Ngoại ngữ chính của tôi là tiếng Pháp và Hán, nhưng hiện nay, để “đối ngoại” thì viết bằng tiếng Anh là thích hợp nhất. Tôi đã dành hẳn mấy năm để học lại ngoại ngữ này, chuyên sâu vào nghệ thuật viết.
Trước đó, tôi cũng đã tiếp cận một câu chuyện thú vị. Năm 1996, nhà văn Canada David Bergen, sau khi đọc The Sorrow of War (Nỗi buồn chiến tranh), đã sang Việt Nam tìm tác giả Bảo Ninh nhưng không gặp, lại tình cờ gặp tôi tại Đà Nẵng, chuyện trò linh tinh trong cả nửa năm. Tám năm sau, tiểu thuyết viết về Việt Nam của David Bergen được xuất bản: The Time in Between, được giải thưởng văn học cao nhất của Canada. Ở cuối sách, David Bergen viết: "Tiểu thuyết The Sorrow of War của Bảo Ninh đã có ảnh hưởng lớn tới quá trình viết tiểu thuyết của tôi". Nhà văn cũng nhắc đến tôi như một người bạn đã dẫn dắt ông thâm nhập tâm thức Việt Nam qua những câu chuyện trong những đêm cùng thao thức. Còn tôi cảm thấy tiểu thuyết của David Bergen thật gần gũi. Có thể vì một số nguyên mẫu trong đó là bạn bè tôi, là những người quanh tôi, là những gì tôi từng kể cho nhà văn... Tiểu thuyết của ông đã đặt ra trong tôi câu hỏi: Tại sao nhà văn Việt Nam không thể trực tiếp kể chuyện Việt Nam cho người đọc thế giới? Và vào một ngày chín muồi ý tưởng ấy, tôi quyết định viết tiểu thuyết bằng Anh ngữ.
* Và anh chấp nhận việc tác phẩm của anh có thể vĩnh viễn không được công bố, nếu nó không may mắn gặp được người đỡ đầu, giới thiệu xuất bản ở Mỹ?
Trước khi viết sách bằng tiếng Anh, tôi đã nghĩ đến giai đoạn “hậu kỳ”. Tôi không phiêu lưu đến mức đành lòng để tác phẩm của mình nằm im trong máy tính cá nhân. Nhưng tôi đủ lãng mạn để hy vọng tiểu thuyết Việt Nam viết bằng tiếng Anh có thể thuyết phục được các nhà xuất bản ở Anh, Mỹ. Vấn đề là tiểu thuyết ấy có hay, có khiến người ta thích không. Trong thực tế, tôi may mắn được một người bạn Mỹ, sau khi đọc bản thảo Debris of Debris, đã giới thiệu với ĐH Saint Benedict.
* Có khác biệt gì trong cách nghĩ và cách mô tả hiện thực trong Debris of Debris so với khi anh viết bằng tiếng Việt cho người Việt đọc?
Tôi không cố làm khác đi "văn chương" của mình, của một tác giả Việt. Debris of Debris được viết bằng Anh ngữ, cũng như nhiều tiểu thuyết của Ấn Độ, Philippines được viết bằng Anh ngữ, thế thôi. Tôi viết bằng tiếng Anh chứ tôi không “làm văn chương” kiểu Anh - Mỹ. Công việc của tôi không giống các nhà văn gốc Việt thế hệ trẻ sống ở nước ngoài đang viết bằng ngôn ngữ của nước sở tại. Debris of Debris là câu chuyện về thị dân miền Nam sau 1975, trên con đường đầy khó khăn để hàn gắn vết thương quá khứ và “hội nhập” vào hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội mới...
* Anh có quan sát gì về việc quảng bá văn chương Việt Nam ở Mỹ?
Tôi chỉ ở Mỹ hơn 20 ngày nên không ghi nhận được nhiều. Cảm giác chung là người Mỹ biết quá ít về văn chương Việt. Và ngược lại, vào các nhà sách, tôi cũng thấy rất nhiều tên tuổi “lạ”, trong khi họ đều là những nhà văn có tác phẩm được in, được đọc nhiều nhất hiện nay ở Mỹ. Riêng tiểu thuyết Mỹ về đề tài chiến tranh Việt Nam thì được tái bản khá đều đặn. Một số giáo sư văn học Mỹ ngạc nhiên khi biết rằng ở Việt Nam đề tài chiến tranh đang rất mờ nhạt so với các đề tài khác. Các biên tập viên nhà xuất bản thì cho biết, họ quan tâm đến bất cứ đề tài gì từ Việt Nam với điều kiện là bản thảo đáng để đọc, và tất nhiên, phải bảo đảm doanh thu.
* Anh có nghĩ rằng rồi sẽ có những nhà văn khác trong nước cũng viết bằng tiếng Anh?
Tôi tin điều đó. Và tin rằng tác phẩm viết bằng Anh ngữ không chỉ để xuất khẩu. FAHASA vẫn đang nhập sách văn học tiếng Anh đó thôi. Tại sao không nghĩ đến việc in văn học Việt viết bằng tiếng Anh ngay trong nước?
Ứng xử văn hóa không chỉ một tuần
TT - Tôi đứng đợi thang máy, nhiều sinh viên cũng đứng ngay đó. Chừng vài giây, nhiều bạn khác chạy vội vào, cố chen lên trước sao cho gần cửa thang nhất. Chẳng ai bận tâm việc phải xếp hàng. Tôi nhắc các bạn phải xếp hàng, đừng lấn cả cô giáo. Một bạn khác quay lại nhìn tôi chằm chằm: “Cô đây hả?”.
Câu chuyện mà thạc sĩ tâm lý Lê Thị Linh Trang (Trường Cán bộ TP.HCM) vừa kể khiến những người dự khán ngao ngán nhưng lại là chuyện rất thật, diễn ra đâu đó và được coi là chuyện bình thường.
TS tâm lý Trần Thị Giồng kể bà rút ra kinh nghiệm xương máu sau mỗi giờ giảng luôn là người rời lớp sau cùng, vì từng có lần bận việc gấp đi vội ra cầu thang đã bị nhiều sinh viên chen lấn suýt té.
Ứng xử văn hóa của thanh niên là câu chuyện vừa được Quận đoàn 10 đưa ra mổ xẻ trong hoạt động của tuần lễ văn hóa ứng xử trong thanh niên. Câu chuyện của bạn trẻ khu vực dân cư là hành vi, thói quen trong sinh hoạt cộng đồng, khu phố mình sinh sống.
Câu chuyện của công chức trẻ là thái độ văn minh, nụ cười công chức trong quá trình công tác, tiếp xúc người dân đến liên hệ công việc. Và ứng xử văn hóa của học sinh không gì khác ngoài đạo đức học đường, thái độ và cách hành xử trước thông tin đa dạng của thế giới mạng.
Có một câu hỏi được đặt ra cho tất cả những ai dự khán các buổi tọa đàm: có thay đổi được thói quen không tốt để thực hiện văn hóa ứng xử không? Có người khẳng định đã là thói quen thì không thể thay đổi. Tuy nhiên phần nhiều bảo rằng sẽ thay đổi được khi chính mỗi người muốn thay đổi, vì “đời đổi thay khi chúng ta thay đổi” kia mà!
Thạc sĩ Linh Trang cho rằng nhiều bạn sợ xấu, lo lắng vì một cái mụn xuất hiện trên mặt, trong khi ra đường thực hiện nhiều hành xử thiếu văn hóa lại coi là chuyện bình thường. Bà gợi ý: “Thử một lần thay đổi cách nghĩ vì thay đổi nhận thức sẽ dẫn đến thay đổi hành vi, bắt đầu từ hành vi nhỏ nhất”.
Chị Khánh Vân - cán bộ Quận đoàn 10 - khẳng định mục tiêu của tuần lễ văn hóa ứng xử trong thanh niên chỉ là hoạt động tập trung, khởi đầu cho một định hướng lâu dài để trong từng hoạt động của mình, tổ chức Đoàn luôn tìm cách vận động mọi bạn trẻ hướng đến lối sống đẹp, thân thiện và có văn hóa với cộng đồng.